Chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 mở ra định hướng phát triển mới cho Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (Học viện), với trọng tâm nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong vận hành đại học.

Hướng tới vị thế đại học trọng điểm về kỹ thuật và công nghệ

Ngày 14/10/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 4119/QĐ-BKHCN phê duyệt Chiến lược phát triển Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (Học viện) giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo đó, Học viện được định hướng trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia về kỹ thuật và công nghệ, chú trọng công nghệ số; là tổ chức đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.

Đến năm 2030, Học viện phấn đấu thuộc nhóm 350 trường đại học hàng đầu châu Á, có một số lĩnh vực công nghệ mũi nhọn thuộc nhóm 200 hàng đầu khu vực. Đến năm 2045, một số lĩnh vực của Học viện hướng tới nhóm 100 hàng đầu thế giới.

Để hiện thực hóa mục tiêu, chiến lược xác định các nhiệm vụ đồng bộ về đào tạo, nghiên cứu, phát triển đội ngũ, hạ tầng và hội nhập quốc tế; gắn nâng cao vị thế học thuật với năng lực giải quyết các bài toán của quốc gia, địa phương và doanh nghiệp.

Lấy AI và đại học số làm động lực phát triển

Học viện xác định trí tuệ nhân tạo (AI) là năng lực lõi của phương thức vận hành mới, được ứng dụng trong đào tạo, nghiên cứu, quản trị, hỗ trợ ra quyết định và cung cấp dịch vụ giáo dục.

 

Đến năm 2030, Học viện đặt mục tiêu 100% môn học có học liệu số và công cụ trợ giảng AI phù hợp; toàn bộ sinh viên có hồ sơ học tập số, dữ liệu năng lực cá nhân và công cụ hỗ trợ học tập thông minh. Các hoạt động quản trị cốt lõi được thực hiện trên môi trường số; sinh viên, giảng viên và cán bộ có định danh số thống nhất.

Định hướng này tạo nền tảng phát triển môi trường học tập cá thể hóa, nâng cao hiệu quả giảng dạy và quản trị dựa trên dữ liệu. Học viện đồng thời phấn đấu triển khai, chia sẻ hoặc hỗ trợ nền tảng chuyển đổi số cho ít nhất 100 cơ sở giáo dục, địa phương, doanh nghiệp và tổ chức vào năm 2030, tăng lên tối thiểu 500 đơn vị vào năm 2045.

Đổi mới đào tạo, chú trọng phát triển nhân tài

Đến năm 2030, Học viện đặt mục tiêu quy mô đào tạo khoảng 40.000 sinh viên, học viên; trong đó có khoảng 2.000 sinh viên tài năng, 2.800 học viên cao học và 400 nghiên cứu sinh. Các ngành kỹ thuật, công nghệ chiếm khoảng 70% quy mô đào tạo.

Học viện hướng tới mở mới, phát triển ít nhất 20 ngành, chương trình đào tạo ở các bậc đại học, thạc sĩ và tiến sĩ; có 10–15 chương trình đạt chuẩn hoặc được kiểm định quốc tế.

Phương thức đào tạo được đổi mới theo hướng liên ngành, cá thể hóa, gắn với dự án, nghiên cứu, thực hành và doanh nghiệp. Đến năm 2030, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có trải nghiệm học tập qua dự án, nghiên cứu hoặc bài toán thực tiễn đạt 100% đối với chương trình tài năng và tối thiểu 30% đối với sinh viên chính quy. Tỷ lệ sinh viên có việc làm sau một năm tốt nghiệp phấn đấu đạt trên 90%.

Tầm nhìn đến năm 2045, quy mô đào tạo đạt 45.000–50.000 người học, với 25–30 chương trình đạt chuẩn hoặc được kiểm định quốc tế; tỷ lệ sinh viên chính quy có trải nghiệm học tập qua dự án, nghiên cứu hoặc bài toán thực tiễn đạt tối thiểu 70%.

Đưa nghiên cứu gắn với sản phẩm và thương mại hóa tri thức

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa tri thức được xác định là trụ cột phát triển mới của Học viện.

Đến năm 2030, Học viện phấn đấu có tối thiểu 10 nhóm nghiên cứu mạnh và 10 phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu chuyên sâu trọng điểm; chỉ tiêu công bố WoS/Scopus đạt bình quân 1 bài trên mỗi cán bộ khoa học, trong đó 40% thuộc nhóm Q1/Q2.

Cùng với đó, Học viện đặt mục tiêu có tối thiểu 50 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, tài sản trí tuệ; khoảng 20 sản phẩm, nền tảng công nghệ được thương mại hóa; ươm tạo 40–50 dự án, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo mỗi năm.

Nguồn thu từ khoa học, công nghệ, chuyển giao công nghệ, tài sản trí tuệ, dịch vụ công nghệ và đổi mới sáng tạo phấn đấu chiếm khoảng 10–15% tổng nguồn thu vào năm 2030. Quy mô Quỹ khoa học, công nghệ, Quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của Học viện đạt tối thiểu 100 tỷ đồng.

Tăng cường đội ngũ, hạ tầng và hội nhập quốc tế

Đến năm 2030, Học viện dự kiến phát triển quy mô nhân lực lên khoảng 1.200–1.250 người, với trên 70% giảng viên có trình độ tiến sĩ; thu hút khoảng 30 chuyên gia đầu ngành, chuyên gia đẳng cấp quốc tế.

Học viện định hướng phát triển khuôn viên mới tại hai miền, dự kiến tại xã Kiều Phú, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, quy mô khoảng 30 ha mỗi cơ sở. Đồng thời, Học viện đặt mục tiêu hoàn thành giai đoạn 1 hạ tầng tính toán AI, nền tảng đại học số và Trung tâm Thí nghiệm thực hành dùng chung.

Trong hợp tác quốc tế, Học viện phấn đấu có khoảng 500 sinh viên quốc tế, tối thiểu 20 đối tác chiến lược quốc tế và 20 chương trình đào tạo hợp tác quốc tế vào năm 2030; thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược với 10 tập đoàn công nghệ và 10 trường đại học thuộc nhóm 200 hàng đầu thế giới.

Các mục tiêu chiến lược sẽ được cụ thể hóa thành chương trình, đề án, nhiệm vụ và chỉ tiêu hằng năm, gắn với trách nhiệm của từng đơn vị. Đây là cơ sở để Học viện nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển năng lực nghiên cứu và từng bước khẳng định vị thế quốc tế, đóng góp vào sự phát triển khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước.